Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Hội chứng ống cổ tay

Biểu hiện của hội chứng ống cổ tay

Bệnh nhân thường đau, dị cảm, tê cứng ở ba ngón rưỡi do thần kinh giữa chi phối, nhưng cũng có khi tê cả bàn tay. Chứng tê này thường xuất hiện vào đêm, có thể đánh thức bệnh nhân dậy, và giảm đi khi nâng tay cao hoặc vẩy cổ tay như vẩy nhiệt kế. Đau và tê tay có thể lan lên cẳng tay, khuỷu hoặc vai. Trong ngày, khi phải vận động cổ tay, ngón tay nhiều như lái xe máy, xách giỏ đichợ, làm việc bàn giấy ở văn phòng… thì tê có hiện tượng lại. Lúc đầu tê có cơn và tự hết mà không cần thiết điều trị. Sau đó, cơn tê càng ngày kéo dài. Có những bệnh nhân bị tê rần suốt cả ngày. Sau 1 thời gian tê, người bệnh có thể đột nhiên bớt tê nhưng bắt đầu thấy việc cầm nắm yếu dần hoặc bị run tay, viết khó, dễ làm rớt đồ vật. Những triệu chứng kể trên là điển hình cho tình trạng dây thần kinh giữa bị chèn ép trong ống cổ tay. Thường thì triệu chứng điển hình gặp tại một tay, nhưng cũng có thể gặp tại cả hai tay.

Dấu hiệu lâm sàng cổ điển của hội chứng ống cổ tay là: dấu hiệu Tinel, và nghiệm pháp Phalen. Dấu hiệu Tinel dương tính: gõ trên ống cổ tay tại tư thế duỗi cổ tay tối đa gây cảm giác đau hay tê giật lên các ngón tay. Nghiệm pháp Phalen dương tính: lúc gấp cổ tay tối đa (đến 900) trong thời gian ít đặc biệt 1 phút gây cảm giác tê tới các đầu ngón tay giảm hoặc mất cảm giác châm chích vùng da do thần kinh giữa chi phối. Những triệu chứng như: teo cơ mô cái, cử động đối ngón yếu, cầm nắm yếu là những dấu hiệu muộn đã có tổn thương thần kinh.

Hiệp hội Các bác sĩ phẫu thuật chỉnh hình Mỹ đưa ra danh sách các triệu chứng phổ biến như sau: tê rần, nóng rát hoặc đau các ngón tay, đặc biệt là đau ở ngón tay cái; có cảm giác như bị tê giật, nhất là là ảnh hưởng tới ngón tay cái và các ngón tay sắp đó; cơn đau lan về phía vai; trong trường hợp nặng, cơ bắp tại cuối ngón tay cái bị biến dạng.

Những người có nguy cơ cao nhất?

Hội chứng đường hầm cổ tay có thể gặp tại mọi độ tuổi và thường gặp tại những người lao động, đặc biệt thường gặp ở nhóm nghề nghiệp mang tính chuyên biệt cao và chỉ dùng 1 số cơ bắp nhỏ ở bàn tay thường xuyên kéo dài. Những người làm việc tư thế cổ tay gập, dùng nhiều động tác lắc cổ tay, hoặc làm các nghề đòi hỏi phải cử động tay liên tục những người dùng máy có rung chuyển khi vận hành. Những người thường xuyên sử dụng máy tính. Những người làm công việc cần phải nắm hay gập cổ tay thường xuyên. Một thống kê cho thấy có tới 1/2 trường hợp hội chứng ống cổ tay diễn ra ở người lao động phải dùng tay nhiều trong các động tác lặp đi lặp lại thường xuyên trong đó lao động bằng tay là những nhóm gặp nguy cơ cao.

Kiểm tra dấu hiệu Tinel

Một số nhóm nghề nghiệp và công việc có nguy cơ cao dẫn đến hội chứng ống cổ tay bao gồm là những người làm công việc đòi hỏi phải cầm nắm hay gập lòng cổ tay thường xuyên, những người sử dụng máy tính, những người tiếp xúc với máy móc rung tay. Cụ thể là:

Về nghề nghiệp: nhân viên văn phòng,nhân viên đánh máy, nhân viên vi tính, nhà văn, nhà báo, biên tập viên, người thu tiền quầy tạp hóa, nhân viên thu ngân, người buôn bán, công nhân làm việc trong các dây chuyền công nghiệp, công nhân làm đường, cắt đường bằng máy rung, những người làm việc trong dây chuyền thực phẩm, thợ mộc, thợ cơ khí, vận động viên bóng bàn, nghệ sĩ chơi đàn…

Nghiệm pháp Phalen

Về công việc: những công việc có nguy cơ bị bệnh liên quan tới dụng cụ và cách cầm dụng cụ, tư thế của bàn tay, tư thế của cơ thể có ảnh hưởng trong việc gây triệu chứng gồm các công việc vào băm chặt, quay guồng dây câu cá, dùng máy cưa, máy vi tính, máy đánh chữ, máy thu tiền. Những người có sở thích như làm vườn, chơi golf, bơi xuồng hoặc ngay cả những người làm việc nội trợ cũng có không ít nguy cơ mắc phải hội chứng này. Đặc biệt là những người thường xuyên tiếp xúc với máy vi tính khi cầm nắm con chuột thường xuyên trong tư thế sai khiến sự căng giãn lặp đi lặp lại tại vùng cổ tay gây chấn thương.

Bệnh thường gặp ở độ tuổi trên 35, phụ nữ mắc bệnh nhiều hơn nam giới gấp 3 lần do sử dụng đôi bàn tay nhiều hơn. Tỉ lệ mắc tại phụ nữ cao hơn nam giới, nhất là phụ nữ thời kỳ mãn kinh, có thai, đang sử dụng thuốc uống tránh thai. Tương tự, tăng cân quá nhanh khi có thai cũng làm gia tăng sự phát triển của hội chứng này. Điều này có thể diễn ra khi mang đa thai hay trước lúc mang thai đã thừa cân hoặc bị “chửa ngực”.

Những người bị chấn thương có thể do nguyên nhân chấn thương ống cổ tay như gãy xương hoặc do các bệnh mạn tính như viêm khớp, đái tháo đường, suy thận, viêm khớp dạng thấp, suy giáp, phụ nữ mang thai, những người béo phì... Nếu gia đình hay bản thân đã từng mắc hội chứng này, hoặc bản thân gặp các khiếu nại vào lưng, cổ hay vai, chẳng hạn như bị lồi đĩa đệm, bị chèn ép rễ thần kinh từ đốt sống cổ hay chấn thương cổ thì càng có nguy cơ bị hội chứng ống cổ tay. Một số bệnh như chấn thương vùng cổ tay, viêm đa dây thần kinh, viêm đa khớp dạng thấp, thoái hóa cột sống cổ, thoát vị đĩa đệm cũng gây hội chứng ống cổ tay.

Nguyên nhân gây ra bệnh

Khi bị các lực nén ép kéo dài, các gân cơ và dây chằng có thể bị sưng phồng làm hẹp đường ống vốn đã nhỏ ở cổ tay (đường hầm cổ tay), khiến cho dây thần kinh giữa trong số các dây thần kinh ngoại biên điều khiển bàn tay bị chèn ép, tạo nên hội chứng đường hầm cổ tay. Lực nén ép có thể do những cử động mang tính lặp đi lặp lại, tư thế sai hoặc khi làm việc, tay thường xuyên duy trì tại một tư thế cố định nào đó trong một thời gian dài.

Ngoài ra, một số bệnh lý(viêm khớp, đái tháo đường, gút, gãy xương lệch trục...) và những yếu tố như căng thẳng, trảo đổi nội tiết ở phụ nữ có thể làm nâng cao nguy cơ mắc hội chứng này. Khi đó thần kinh giữa tại mặt lòng cẳng bàn tay chui qua đường hầm tại cổ tay, nằm chung với chín gân gập ngón tay. Các gân này nằm trong những bao nhớt, gọi là bao hoạt dịch. Gân bị viêm sưng lớn lên và lấn lên rễ thần kinh giữa; thần kinh giữa mềm mại bị chèn ép nặng hơn bởi những gân cứng như dây thừng do sưng nề, gây ra bệnh.

Như vậy, nguyên do sâu xa của bệnh xuất phát từ cơ chế thần kinh giữa ở mặt lòng cẳng bàn tay đi qua đường hầm tại cổ tay, nằm chung với chín gân gập ngón tay. Các gân này nằm trong những bao nhớt, và lúc gân bị viêm sưng lớn sẽ lấn lên rễ thần kinh giữa. Do thần kinh giữa mềm nên bị chèn bởi những gân cứng như dây thừng do sưng, từ đó sẽ gây nên hội chứng ống cổ tay.

Có nhiều lý do làm cho thần kinh giữa bị chèn ép như:

- Mấu xương ở khớp cổ tay hoặc dị dạng do gãy cổ tay.

- Tê thấp làm sưng khớp.

- Thai kỳ, cơ thể phụ nữ giữ nhiều nước lúc có thai khiến họ lên cân.

- Đái tháo đường, có thể gây thoái hóa dạng bột.

- Suy nhượctuyến giáp gây sưng phù.

- Các cử động liên tiếp của cổ tay.

Nếu công việc văn bộ phận buộc phải ngồi hàng giờ, dễ dẫn đến tư thế ngồi sai như ngả người ra sau hoặc trượt dài trên ghế. Màn hình máy tính có thể đặt quá cao làm cho cổ và vai căng và đau, bàn phím đặt tại vị trí không chín xác khiến cổ tay bị sức ép liên tục... cũng có thể dẫn đến hội chứng ống cổ tay.

(Xem tiếp kỳ sau)

PGS.TS. NGUYỄN HOÀI NAM

(Cố vấn BV. Quốc tế Minh Anh)

0 nhận xét:

Đăng nhận xét