Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Viêm đại tràng mạn, chủ quan là nguy

Viêm đại tràng mạn có thể do rất nhiều nguyên nhân không như nhau hoặc không rõ nguyên nhân. Đây cũng là bệnh vào hệ tiêu hóa, có tỷ lệ tái phát cao trong mùa hè. Bệnh gây tổn thương có thể khu trú 1 vùng hoặc lan toả khắp đại tràng. Bài viết sau đây xin điểm 1 số nguyên nhân thường gặp gây viêm đại tràng mạn.

Viêm đại tràng do amip

Bệnh lây truyền theo đường tiêu hoá. Kén amip đã trưởng thành theo thức ăn về dạ dày, qua ruột, rồi từ đoạn hỗng tràng amip gây ra những tổn thương viêm loét ở manh tràng, đại tràng và trực tràng. Bệnh nhân có những triệu chứng đi tiêu phân nhầy lẫn máu kèm cảm giác mót rặn và đau bụng quặn từng cơn. Bệnh thường kéo dài và hay tái phát. Chẩn đoán dựa về việc xét nghiệm phân để tìm amip hoặc làm xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán amip hay nội soi đại tràng sinh thiết có thể thấy được những hình ảnh tổn thương loét đặc hiệu ở đại tràng, giúp cho chẩn đoán. Việc điều trị tuỳ thuộc mức độ nặng nhẹ của bệnh mà bác sĩ sẽ có chỉ định sử dụng loại thuốc thích hợp. Điều đáng nói là thuốc điều trị amip có những tác dụng phụ nên bệnh nhân cần nhập viện để điều trị và theo dõi.

Hình ảnh viêm đại tràng.

Viêm đại tràng do lao (lao ruột)

Thường thứ phát sau lao phổi (50% bệnh nhân lao ruột có hình ảnh lao khi chụp Xquang phổi). Cũng có thể gặp lao ruột nguyên phát do bệnh nhân bị nhiễm vi khuẩn lao qua đường ăn uống. Bệnh diễn tiến mạn tính với những triệu chứng nhiễm lao (sốt nhẹ vào chiều, mệt mỏi biếng ăn, thể trạng suy sụp) và rối loạn tiêu hoá (tiêu chảy kéo dài, phân đờm nhớt hoặc có máu). Bệnh có thể diễn biến gây tắc ruột hoặc lao màng bụng. Chẩn đoán dựa về xét nghiệm tìm vi khuẩn lao trong phân, Xquang và nội soi đại tràng sinh thiết cho thấy những hình ảnh tổn thương và tìm tế bào điển hình của lao. Việc điều trị lao ruột cũng phải tuân theo phác đồ điều trị lao chung với các thuốc đặc trị như isoniazid, riafampin, pyrazinamide, ethambutol. Lưu ý: người bệnh cần sử dụng đủ thuốc, đúng liều và đúng phác đồ để tránh hiện tượng kháng thuốc. Khi có biến chứng tắc ruột thì cần mổ cấp cứu.

Viêm đại tràng giả mạc

Tác nhân gây do vi khuẩn C. difficile, là loại vi khuẩn thường trú tại ruột thông thường không gây bệnh nhưng do dùng kháng sinh dài ngày gây loạn khuẩn ruột. Bệnh diễn biến mạn tính gây những tổn thương màng giả tại đại tràng, làm bệnh nhân tiêu chảy nước hoặc có lẫn máu, kèm theo sốt và triệu chứng nhiễm độc do độc tố vi khuẩn. Chẩn đoán dựa về cấy phân tìm vi khuẩn, nội soi đại tràng kèm sinh thiết... Để điều trị, trước hết cần ngừng dùng những kháng sinh không cần thiết, thay bằng sử dụng vancomycin hay metrionidazol có thể dùng lacteobaci-llus.

Viêm loét đại tràng vô căn

Bệnh không tìm thấy nguyên do như vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm hay virut tại đại tràng. Nguyên nhân có thể có liên quan đến những rối loạn miễn dịch và xảy ra trên những bệnh nhân bị stress nặng. Triệu chứng bao gồm quặn bụng từng cơn, cảm giác mắc cầu cấp thiết, phân nhầy máu kèm sốt, sụt cân. Ngoài ra, bệnh nhân còn có những triệu chứng đau do viêm các khớp hoặc viêm đốt sống. Bệnh có thể diễn tiến thủng ruột hặc phình đại tràng và ung thư hoá. Nguy cơ ung thư dường như sẽ diễn ra 10 năm sau lúc phát hiện bệnh và tỷ lệ nâng cao lên sau mỗi năm. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào nội soi đại tràng và sinh thiết. Về điều trị, cần cho bệnh nhân ăn thức ăn dễ tiêu, tránh sữa, sử dụng các thuốc chống tiêu chảy, dùng thuốc corticpoid đặt hoặc thụt hậu môn và sử dụng prednison đường tĩnh mạch trong trường hợp nặng. Đôi khi phải sử dụng thuốc ức chế miễn dịch.

Khi diễn ra biến chứng xuất huyết ồ ạt, nhiễm độc hoặc thủng đại tràng, cần được mổ cấp cứu, thậm chí phải cắt toàn bộ đại tràng nếu sinh thiết đại tràng thấy có tình trạng loạn sản hoặc không đáp ứng điều trị.

Bệnh Crohn

Là 1 bệnh không rõ nguyên nhân, rất thường gặp ở u Mỹ nhưng hiếm ở nước ta. Bệnh xảy ra ở cả ruột non và đại tràng, diễn tiến mạn tính với các triệu chứng tiêu chảy đau bụng, sốt, đau hố chậu phải, dễ chẩn đoán nhầm với viêm ruột thừa. Bệnh gây ra những thương tổn co thắt, phù nề và xơ hoá, gây hẹp lòng ruột dẫn đến tắc ruột, rò ruột, ápixe và rò cạnh hậu môn. Việc điều trị như viêm loét đại tràng.

Lời khuyên của thầy thuốcViêm đại tràng mạn là 1 bệnh thường gặp, chẩn đoán nguyên nhân thường khó, điều trị kéo dài vì bệnh hay tái phát. Để phòng bệnh, cần chú ý vệ sinh thực phẩm, ăn chín uống sôi, không uống sữa bò tươi chưa tiệt trùng; Tránh sử dụng kháng sinh kéo dài, điều trị tích cực lúc bị lao phổi; Khi có rối loạn đi cầu, phân đờm, cần khám chuyên khoa tiêu hoá để xác định chẩn đoán, cần loại trừ bệnh ác tính tại đại tràng. Đặc biệt, bệnh viêm đại tràng mạn có thể nặng thêm ví dụ bệnh nhân có những khiếu nại vào tâm lý như trầm cảm, lo âu… Vì vậy, người bệnh cần thực hiện các phương pháp chống stress như tập thể dục, tập dưỡng sinh (thở bụng, ngồi thiền, tập yoga).

BS. Trần Quang Nhật

0 nhận xét:

Đăng nhận xét